Month: May 2019

Vì Sao Khả Năng Tự Làm Sạch của nước Là Có Hạn?

Sau khi chất ô nhiễm xâm nhập vào nước, thông qua hàng loạt tác dụng về vật lí, hoá học, sinh vật nồng độ ô nhiễm sẽ dần dần giảm xuống. Sau một thời gian, nước có thể khôi phục trở lại trạng thái không bị ô nhiễm ban đầu. Cơ chế tự điều tiết, làm sạch này chính là khả năng tự làm sạch của nước.

1. Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nước tự làm sạch

Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nước có rất nhiều. Đó là địa hình và điều kiện thuỷ văn của dòng sông, ao hồ, hải dương, v.v…; chủng loại và số lượng vi sinh vật trong nước; nhiệt độ nước và tình hình oxi trong nước; tính chất và nồng độ của chất ô nhiễm.

2. Các quá trình tự làm sạch của nước 

Cơ chế tự làm sạch của nước bao gồm các quá trình vật lí như: trầm tích, làm loãng hoà tan, v.v…, các quá trình hoá học và lí hoá như oxi hoá hoàn nguyên, hoá hợp phân giải, hấp thụ tích tụ, v.v… và các quá trình sinh hoá. Các quá trình đồng thời phát sinh, đan xen nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Nói chung các quá trình vật lí và sinh vật học chiếm vị trí chủ yếu trong khả năng tự làm sạch của nước.

mat-ri-duong

Anh kỹ sư môi trường đang bổ sung vi sinh và chất dinh dưỡng cho hệ thống XLNT

3. Vì sao nói khả năng tự làm sạch của nước là có hạn?

Khả năng tự làm sạch của nước là có hạn. Khi lượng chất ô nhiễm vượt quá năng lực tự làm sạch của nước thì nước sẽ trở thành có hại cho sức khoẻ con người hoặc phá hoại môi trường sinh thái, gọi là nước ô nhiễm. Tình hình ô nhiễm nước của Việt Nam khá nghiêm trọng. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm chủ yếu là nước bẩn của đô thị và các khu công nghiệp thải ra, trong đó nước thải công nghiệp là chính.

Đối với trường hợp nước đã bị ô nhiễm, xử lý ô nhiễm bằng vi sinh mầm là điều cần thiết. Các chủng vi sinh chủ yếu ứng dụng trong xử lý nước thải là vi sinh hiếu khí WWT và vi sinh tùy nghi Envirozyme 2.0


Xem thêm:

2 lý do vì sao phải dùng xăng không chì
3 thành phần chính của không khí
Sương mù quang hóa là gì?
Hen suyễn do ô nhiễm không khí ở Nhật Bản
Bể hiếu khí bị sự cố, phải làm sao?
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

Vì sao phải đề phòng nấm mốc trong mùa mưa

Vào mùa mưa, đặc biệt là mưa dầm liên miên vào đầu mùa hạ ở khu vực Tây Nguyên, độ ẩm không khí tương đối cao, trên 80%, nhiệt độ ở 25 – 30 oC, rất thích hợp cho nấm mốc sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ.

1. Nấm mốc trong mùa mưa phát triển ở những đâu?

Các loài nấm mốc không chỗ nào không thâm nhập vào, ảnh hưởng cho cuộc sống, sản xuất và sức khoẻ. Trong mùa mưa dầm, độ ẩm không khí rất lớn, thực phẩm nếu không được phơi khô hoặc cất giữ không cẩn thận rất dễ bị mốc. Quần áo nếu không được giặt sạch và phơi thật khô đã vội vàng bỏ vào tủ thì cho dù là vải bông, len, hay sợi pha đều có thể lên mốc. Đồ gỗ và các dụng cụ gia đình cũng rất dễ ẩm mốc, giày dép, săm lốp và các ống cao su, các sản phẩm đồ nhựa cũng dễ lên mốc, làm cho đồ gỗ mất bóng, cao su lão hoá, đồ nhựa giòn và mau biến chất.

Related image

Khuẩn nấm mốc trong mùa mưa còn có thể sinh trưởng trên các lớp sơn, khiến cho sơn mất màu. Khuẩn mốc còn có thể khiến cho dây dẫn rò điện, chập mạch, khuẩn mốc làm cho thuỷ tinh bị mờ, máy ảnh và kính hiển vi nếu không được bảo quản cẩn thận, nấm mốc sẽ kết màng trên kính, làm cho chất lượng trong suốt bị giảm đi, thậm chí hư hỏng.

2. Nấm mốc trong mùa mưa gây ra những bệnh tật gì?

Mùa mưa dầm, khí hậu biến đổi khác thường, bầu trời ảm đạm, không khí ẩm ướt khiến cho con người cảm thấy không thoải mái, dễ mệt mỏi và dễ ốm. Phong thấp là loại bệnh phát sinh nhiều vào mùa này. Khuẩn nấm mốc trong mùa mưa gây bệnh nấm ngoài da như nấm ở chân, nấm ở đầu, v.v… Chúng cũng có thể xâm nhập vào máu gây nên những chứng bệnh máu nhiễm khuẩn, thông qua máu gây tác hại cho các tạng phủ. Các bệnh nấm mốc ngoài da thường lặp đi lặp lại, vì vậy rất khó chữa tận gốc, làm cho người ta không tin có thể chữa khỏi. Nấm mốc xâm phạm vào các tạng phủ, nếu nghiêm trọng có thể cướp đi sinh mệnh của con người.

nam-moc-trong-mua-mua

Có một số men của nấm mốc cũng gây nguy hại cho chúng ta. Ví dụ, khuẩn nấm đỏ trên lúa mạch sản sinh ra men màu đỏ, gây nôn mửa, hoặc ỉa chảy. Đáng sợ hơn là nấm mốc gây ra độc tố men màu vàng, là một trong những chất gây ung thư cả thế giới đều biết đến.

3. Ngăn ngừa tác hại của nấm mốc trong mùa mưa như thế nào?

Ngăn ngừa nấm mốc xâm hại đến cơ thể cần phải bắt tay từ phòng ngừa lây nhiễm và tăng cường sức đề kháng. Vào mùa mưa dầm, đặc biệt chú ý đề phòng da bị nấm, chú ý vệ sinh cá nhân và những nơi công cộng. Thống kê của y học chứng tỏ đối tượng chủ yếu mà nấm mốc xâm phạm các cơ quan nội tạng là người già, trẻ em và những người suy nhược. Họ phải đặc biệt chú ý ăn uống vệ sinh, quần áo mặc đủ ấm, khô ráo, v.v… để qua mùa mưa một cách thuận lợi.

nam-moc-trong-mua-mua-1

Biện pháp ngăn ngừa nấm mốc là thông gió, phơi đồ vật dưới ánh nắng Mặt Trời, phơi khô nỏ và dùng cồn ngăn ngừa. Khi trời nắng thì phòng ở và nhà kho phải thông gió, không để cho những loài nấm thích hợp với môi trường ẩm ướt và tối sinh sôi nảy nở. Quần áo chăn màn cần được phơi kịp thời; máy ảnh, kính hiển vi và những thiết bị tinh vi khác trước mùa mưa dầm cần được phơi khô, lau sạch, bảo quản cẩn thận và trong hộp đựng đồ đạc cần bỏ chất chống ẩm; giày da và các dụng cụ gia đình có thể sơn hoặc quét dầu chống mốc, các kho chứa đồ cao su và đồ mộc cần phải phun thuốc chống mốc.


Xem thêm: 

2 lý do vì sao phải dùng xăng không chì
3 thành phần chính của không khí
Sương mù quang hóa là gì?
Hen suyễn do ô nhiễm không khí ở Nhật Bản
Bể hiếu khí bị sự cố, phải làm sao?
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

3 thành phần nước thải: vật lý, hóa và sinh học

Để quá trình xử lý nước thải được tốt, cần xác định 3 thành phần nước thải cơ bản là thành phần vật lý, hóa và sinh học.

1. Thành phần nước thải: thành phần vật lý

Theo trạng thái vật lý, các chất bẩn trong nước thải được chia thành:

  • Các tạp chất không tan ở dạng lơ lửng kích thước lớn. Chúng có thể ở dạng huyền phù, nhũ tương haowjc kích thước lớn như giẻ, vải, giấy, que củi…
  • Các tạp chất bẩn dạng keo
  • Các chất bẩn dạng tan, dạng pahan tử hoặc phân lù thành ion.

Nước thải sinh hoạt thường có mùi hôi thối khso chịu, khi vận chuyển trong đường cống sau 2-6 tiếng, mùi H2S xuất hiện và nước có màu sẫm. Nồng độ các chất bẩn cang cao, nước thải càng có màu và càng đục.

Mùi hôi nước thải, đặc biệt là mùi H2S được xử lý hiệu quả bằng vi sinh Odour Control Plus nhập khẩu của hãng Organica, được các nhà máy dệt nhuộm ở miền Trung Việt Nam tin dùng vì khả năng xử lý mùi lâu dài.

 

cong-doan-xu-ly-nuoc-thai-may-luoc-rac-flashct

Máy chắn rác ở nhà máy XLNT sản xuất khoai lang

2. Thành phần hóa học của nước thải:

Thành phần nước thải hóa học ở dạng vô cơ từ nước cấp như sắt, magie, xan xi, silic và chất hữu cơ từ sinh hoạt như phân, nước tiểu và các chất thải khác như cát, sét, dầu mỡ khi chảy vào mạng lưới thoát nước. Nước thải vừa xả ra thường có tính kiềm nhưng dần trở nên có tính axit vì thối rữa. Các chất hữu cơ có thể có nguồn gốc từ thực vật hoặc động vật, những chất hữu cơ trong nước thải có thể chia thành các chất chứa nito và không chứa nito. Các hợp chất chứa nito như mỡ, xà phòng, hydrocacbon trong đó có cả xenlulo.

Ngoài ra thành phần nước thải còn là các chất như photpho, sunfua hydro… Các chất thải công nghiệp lẫn vào và làm nước thải càng thêm đa dạng với nhiều loại chất khác nhau.

Bảng 1. Thành phần tính chất nước thải tính bằng mg/l

thanh-phan-nuoc-thai

Trong nước thải sinh hoạt tổng các chất bẩn dạng vô cơ khoảng 42% và các chất bẩn dậng hữu cơ là 58%. Các chất vô cơ phân bố ở dạng tan nhiều hơn còn cá chất hữu cơ phân bố nhiều ở dạng keo và không tan.

3. Thành phần vi sinh vật của nước thải:

Trong nước thải có nhiều loại vi sinh vật như nấm men, nấm mốc, tảo, vi khuẩn. Thành phần hữu cơ trong nước thải được xử lý chủ yếu là nhờ vi khuẩn có lợi. Bên cạnh đó cũng có cá vi khuẩn gây bệnh nên bước cuối trong XLNT là khử trùng để khử vi khuẩn.

Xem thêm: 5 nhóm vi sinh vật trong bùn hoạt tính

Có thể bổ sung vi sinh có lợi vào bể sinh học để tăng khả năng XLNT của hệ thống bằng vi sinh Envirozyme 2.0 hoặc vi sinh WWT


Xem thêm:

Bể hiếu khí là gì?
Bể hiếu khí bị sự cố, phải làm sao?
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

 

Bể hiếu khí là gì?

Bể hiếu khí (bể aerotank) là công trình nhân tạo, trong đó người ta cung cấp oxy và khuấy trộn nước thải với vi sinh xử lý nước thải. Vi sinh trong bể hiếu khí tồn tại dưới dạng bông xốp, tập hợp chủ yếu các quần thể vi khuẩn khoáng hóa có khả năng hấp thụ và oxy hóa chất hữu cơ nhờ oxy có trong nước thải.

1. Đảm bảo oxy trong bể hiếu khí bằng cách nào?

Để đảm bảo oxy thường xuyên và nước thải cùng vi sinh được trộn đều, người ta thường cấp khí cho bể aerotank bằng hệ thống sục khí bằng khí nén, bằng các thiết bị khuấy trộn cơ khí hoặc kết hợp cả hai phương pháp này. Quá trình sục khí, ngoài việc cung cấp oxy cho quá trình phân hủy chất bẩn, còn tăng cường hòa trộn hỗn hợp vi sinh và nước thải để vi sinh tiếp xúc chất bẩn trong nước thải.

be-hieu-khi

Bể hiếu khí được sục khí khắp bể bằng các đĩa sục khí

2. Bể aerotank xử lý nước thải như thế nào?

Sau khi hấp thụ chất hữu cơ trong nước thải, vi khuẩn phân chia và làm tăng sinh khối bùn (là vi khuẩn và chất hữu cơ). Đối với nước thải nhiều chất hữu cơ, sinh khối nhiều. Bùn được giữ lại trong bể lắng II. Một phần của lượng bùn này được tuần hoàn lại bể aerotank tiếp tục chu trình hấp thụ và oxy hóa chất hữu cơ. Phần bùn dư được đưa về bể nén bùn và các công trình xử lý bùn cặn khác. Hiệu suất xử lý nước thải trong bể hiếu khí, chất lượng bùn hoạt tính … phụ thuộc vào thành phần và tính chất nước thải, điều kiện thủy động học quá trình khuấy trộn, nhiệt độ và độ pH nước thải, sự tồn tại các nguyên tố dinh dưỡng và các yếu tố khác.

Nếu nước thải có BOD lớn (La>150mg/l) và có các chất độc hại đối với vi khuẩn thì cần phải tái sinh bùn hoạt tính bằng cách thổi khí cho chúng sau khi tuần hoàn lại và trước khi tiếp xúc với nước thải hoặc phải sử dụng sơ đồ công nghệ xử lý nước thải trong bể aerotank nhiều bậc.

vi-sinh-F33

Mẫu sinh khối bùn lấy từ hệ thống XLNT sinh hoạt

Để tăng khả năng xử lý nước thải, vi sinh hiếu khí hoặc tùy nghi thường được bổ sung vào hệ thống. Các hệ thống Flash tư vấn thường dùng Organica F33 cho hệ thống XLNT sinh hoạt và WWT cho hệ thống khác

2 loại bể hiếu khí aerotank

Theo sơ đồ chuyển động của dòng nước thải và sự tuần hoàn của bùn hoạt tính, người ta chia ra các loại bể  đẩy và bể trộn, Đối với bể đẩy, nước thải và bùn hoạt tính tuần hoàn được đưa vào từ một phía. Bùn và nước tiếp xúc với nhau trong quá trình chuyển động dọc bể hiếu khí. Bể hiếu khí đẩy thường dùng cho các loại nước thải có BODtp dưới 300mg/l

Đối với bể trộn, bùn và nước được trộn ngay từ đầu cũng như trong toàn bể dung tích bể. Bể trộn có thể dùng để xử lý nước thải khi BODtp tới 1000mg/l.

Bể hiếu khí có nhiều loại, phạm vi ứng dụng lớn. Có thể dùng bể aerotank cho các trạm công suất vài chục m3/ngày đêm đến hàng trăm ngàn m3/ngày đêm.


Xem thêm:

Bể hiếu khí bị sự cố, phải làm sao?
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

 

 

Vì sao phải dùng xăng không chì?

Trong khí thải của ô tô có các hợp chất của chì như chì tetrametyl (CH3)4Pb. Đó là vì trong xăng đã pha chất phụ gia chống nổ chì tetrametyl. Vì sao phải dùng xăng không chì?

1. Dùng xăng không chì để giảm ô nhiễm chì trong không khí 

Thông thường mỗi galon (bằng 3,79 lít) xăng người ta thêm vào 2 – 4 g chì tetrametyl. Khi ô tô chạy, 25% – 75% chất này cháy với xăng sản sinh ra các hợp chất của chì thải vào không khí. Chì là kim loại nặng, rất độc, ankyl chì càng có độ độc cao hơn. Ví dụ, độ độc của ankyl chì cao gấp 100 lần so với kim loại chì. Khi chì và các hợp chất của chì xâm nhập vào không khí ở dạng những hạt li ti, khuếch tán đi rất xa. Trong băng tuyết ở Bắc Cực, hàm lượng chì hai năm trở lại đây đã tăng lên 20 lần. Số chì này đều là từ các lục địa trôi nổi bay đến. Cùng với sự phát triển của công nghiệp hiện đại, không khí ô nhiễm chì đã lan rộng khắp thế giới và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

dung-xang-khong-chi

2. Dùng xăng không khí để giảm ô nhiễm chì trong nguồn nước và đất đai

Không khí ô nhiễm chì, trên 90% là do khí thải ô tô tạo nên. Chì và các hợp chất của chúng trong không khí sau khi lắng xuống mặt đất còn làm cho nguồn nước và đất đai bị ô nhiễm. Chì và các hợp chất của chì rất có hại cho cơ thể người.

Chúng có thể đi theo đường ăn uống vào đường tiêu hóa, hoặc thông qua hô hấp đi vào phổi, chất chì tetramethyl còn có thể thông qua da thẩm thấu vào cơ thể. Chì sau khi vào cơ thể, 90% – 95% sẽ hình thành chất chì photphat Pb3(PO4)2 trầm tích vào trong xương, chỉ một ít được bài tiết ra khỏi cơ thể. Khi chì tích tụ trong cơ thể đến một nồng độ nhất định sẽ gây nên ngộ độc chì. Nói chung cơ thể sau khi nhiễm độc chì mặt sẽ xanh nhợt, váng đầu, uể oải, đau khớp, nếu nhiễm độc chì nặng hơn sẽ có các chứng bệnh thiếu máu.

Đó là vì chì hợp thành với các hồng cầu trong máu gây trở ngại cho khả năng hấp thu và đào thải của cơ thể. Năm 1961 ở Tokyo, Nhật Bản đã xảy ra sự kiện nhiễm độc chì mãn tính trên những nút giao thông ở ngoại ô Tôkyô, nơi có xe cộ qua lại tấp nập, mỗi phút khoảng 50 ô tô, các khí thải chứa chì thải vào không khí khiến cho dân cư xung quanh xuất hiện nhiều hiện tượng chức năng máu giảm thấp. Có những người dân còn bị các bệnh về tim mạch, não ứ máu và viêm thận mãn tính. Cảnh sát giao thông buộc phải đội mũ phòng độc khi làm nhiệm vụ.

*Nguồn: sách Mười vạn câu hỏi vì sao khoa học môi trường – Nguyễn Văn Mậu


Xem thêm:

Sương mù quang hóa là gì?
3 thành phần chính của không khí
Hen suyễn do ô nhiễm không khí ở Nhật Bản

Sương mù quang hóa là gì?

1. Câu chuyện sương mù quang hóa ở thành phố Los Angeles

Los Angeles là thành phố lớn thứ ba của Mỹ. Từ những năm 40 của thế kỉ XX, thành phố này đã có 2,5 triệu ô tô. Là thành phố giáp biển, ba mặt là núi bao bọc nên không khí khó lưu thông, do đó phần lớn khí ô tô thải ra giống như một cái lồng úp lên thành phố.

Khi dùng xăng để chạy ô tô, khí thải ra chứa các hợp chất của sunfurơ, CO2 và nitơrơ cùng với các hợp chất cacbuahiđro. Dưới tia tử ngoại của ánh nắng mạnh, hai loại khí cuối cùng sẽ xảy ra hàng loạt phản ứng hóa học, sinh ra một loại sương mù màu xanh lam nhạt, gồm các chất khí ôzôn, anđehit tạo thành, được gọi là sương mù quang hóa học. Nồng độ của sương mù này chỉ cần đạt đến mấy phần triệu là đã kích thích rất mạnh đối với mắt, gây đau đầu, khó thở, thậm chí hôn mê. Nếu chúng kết hợp với sương mù axit sunfuric do khí sunfurơ tạo nên gây ô nhiễm thì độ độc và tính nguy hại càng lớn hơn.

Tháng 9 năm 1955, do bị ô nhiễm nghiêm trọng khí thải ô tô, cộng với nhiệt độ không khí hơi cao, nồng độ khói mù quang hóa học ở thành phố Los Angeles đã đạt đến 6,5 phần triệu. Kết quả trong hai ngày đã có hơn 400 cụ già trên 65 tuổi bị chết, cao gấp 3 lần so với bình thường. Đó là sự kiện sương mù quang hóa học nổi tiếng ở thành phố Los Angeles.

Image result for photochemical smog

2. Ảnh hưởng của sương mù quang hóa

Sương mù quang hóa ngoài có hại cho sức khỏe con người, còn gây nên bệnh tật cho gia cầm, gia súc và hoa màu, khiến các chế phẩm cao su bị lão hóa, làm cho các công trình kiến trúc và máy móc bị hoen gỉ. Trong thời gian thành phố Los Angeles bị sương mù, vùng rau ở ngoại ô từ màu xanh biến thành màu nâu, không ai dám ăn, sản lượng hoa quả và các nông sản khác giảm thấp, hàng loạt cây cối lá xanh biến thành màu vàng, 1/4 cánh rừng hàng vạn mẫu do cành lá bị khô héo mà chết.

Cùng với sự phát triển của sản xuất công nghiệp và số lượng ô tô tăng lên, nhiều thành phố trên thế giới cũng đã xảy ra hiện tượng sương mù quang hóa tương tự.

Hiện tượng sương mù quang hóa đã làm cho mọi người phải quan tâm. Ngày nay trên thế giới có không ít thành phố đặt những thiết bị đo lường chuyên dụng, có thể đo tình trạng ô nhiễm của không khí và tình hình
khí tượng bất cứ lúc nào, để khi cần thiết có thể tìm ra biện pháp ngăn ngừa hiện tượng sương mù quang hóa học phát sinh


3 thành phần chính của không khí
Hen suyễn do ô nhiễm không khí ở Nhật Bản

3 thành phần chính của không khí

Khi bạn rời thành phố đầy xe cộ đến du lịch ở bãi biển, nông thôn hoặc một vùng núi nổi tiếng, chắc chắn bạn sẽ có cảm giác thoải mái, tinh thần sảng khoái hơn. Điều đó không chỉ vì ở những vùng này phong cảnh đẹp mà quan trọng hơn là ở đó rất trong lành, ba thành phần chính của không khí có tỉ lệ hợp lý .

Không khí và khí quyển là gì?

Không khí và khí quyển, từ góc độ khoa học tự nhiên mà xét thực ra không khác biệt về bản chất, thường là những từ đồng nghĩa. Nhưng trong khoa học môi trường thì không khí cung cấp cho động, thực vật sinh sống trong một môi trường nhỏ, như trong toa xe, phòng ở, thành phố, rừng núi v.v.. theo thói quen đều được gọi là không khí. Còn đối với các dòng khí trong một khu vực lớn hoặc có tính toàn cầu thường được gọi là khí quyển.

Tổng khối lượng khí quyển có khoảng 6 triệu tỉ tấn, tương đương với 1/10 triệu của khối lượng Trái Đất. Độ dày của khí quyển khoảng 1.000 km, trong đó lớp không khí chủ yếu mà loài người dựa vào đó để sinh sống là phần không khí bao quanh mặt đất với độ dày từ 10 – 12 km. Trong cuộc sống thường ngày, ở những trường hợp khác nhau, khu vực khác nhau, chất lượng của không khí rất khác nhau. Chúng ta đều mong muốn được thở không khí tươi mát trong lành. Vậy không khí như thế nào mới được xem là tươi mát trong lành?

Image result for khí quyển

3 thành phần chính của không khí

3.1: Thành phần chính của không khí: các khí cố định

Không khí hoặc khí quyển là một hỗn hợp gồm nhiều loại khí. Thông thường có 3 loại thành phần: thành phần cố định, thành phần có thể biến đổi và thành phần không cố định. Trong không khí, nitơ chiếm 78,09%, oxi
chiếm 20,95%, khí trơ chiếm 0,93%. Ba loại này tổng cộng chiếm 99,97% tổng thể tích của khí quyển. Chúng cùng với các vi lượng khí hiếm như: neon (Ne), heli (He), krypton (Kr), xenon (Xe), radon (Rn), v.v.. tổ hợp nên thành phần cố định của khí quyển. Tỉ lệ của thành phần này bất cứ chỗ nào trên mặt đất đều giống nhau.

3.2: Thành phần có thể thay đổi

Thành phần có thể thay đổi là chỉ khí cacbonic và hơi nước trong không khí. Trong điều kiện bình thường thì hàm lượng cacbonic là 0,02% – 0,04%, hàm lượng hơi nước dưới 4%. Hàm lượng của chúng trong không khí thay đổi theo mùa và điều kiện khí hậu, chúng gây ảnh hưởng đến sản xuất và hoạt động đời sống của con người.

Không khí gồm thành phần cố định và thành phần có thể biến đổi ở trên gọi là không khí thuần khiết, trong sạch.

Image result for fresh atmosphere

3.3: Thành phần không cố định của không khí:

Phần không cố định trong thành phần chính của không khí có hai nguồn: một là do trong thiên nhiên xuất hiện những thiên tai đột xuất gây nên các chất ô nhiễm mà hình thành. Hai là do loài người gây ô nhiễm cho môi trường mà hình thành. Đó là những nguồn chủ yếu nhất của thành phần bất định trong khí quyển, cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm không khí. Bầu khí quyển ngoài các thành phần kể trên còn có một lượng ít ion âm. Các ion âm được gọi là vitamin của không khí, có thể giúp cho người ta duy trì chức năng sinh lí được bình thường. Ở biển, rừng núi, nông thôn trong không khí chứa nhiều ion âm. Con người sống trong môi trường đó sẽ cảm thấy đặc biệt thoải mái.

Tóm lại, chỉ khi không khí không bị ô nhiễm, tức là khi nitơ, oxi, khí trơ và hàm lượng những khí hiếm vi lượng khác có giá trị bình thường, hàm lượng khí cacbonic và hơi nước biến đổi trong phạm vi bình thường, hơn nữa trong không khí có được một lượng ion âm tương đối thì không khí đó mới có thể gọi là không khí tươi mát trong lành.


Xem thêm:

Bể lọc sinh học là gì?
Dùng nước thải để tưới ruộng, nên hay không?
Sinh vật trên Trái Đất có bao nhiêu loài?
Nuôi vi sinh cho nhà máy giết mổ gia súc từ bùn nhà máy bia có được không?
Ví dụ xử lý nước thải nhà máy bia (Phần 1/3)
Ví dụ về xử lý nước thải nước giải khát ở Nhật
3 quy trình xử lý nước thải thực phẩm
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

Hen suyễn do ô nhiễm không khí ở Nhật Bản

1. Câu chuyện ở thành phố Tsuru, Nhật Bản

Năm 1961, thành phố Tsuru (Nhật Bản) bỗng nhiên xuất hiện dịch hen suyễn. Trong một thời gian ngắn, bệnh viện chật kín bệnh nhân hen. Điều kì lạ là những người này chỉ cần rời khỏi thành phố thì bệnh thuyên giảm. Song khi trở về bệnh lại lập tức tái phát. Tình trạng đó khiến cho mọi người phải chú ý. Và cán bộ y tế bắt đầu điều tra sự việc này.

Nhân viên điều tra phát hiện khu đồng muối bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Số người bị hen đối chứng với khu không bị ô nhiễm cao gấp 2 – 3 lần. Mọi người đều biết bệnh hen nói chung là do di truyền hoặc do nhạy cảm với bụi mà gây nên. Dựa vào thí nghiệm trên những bệnh nhân bị hen di truyền hoặc do nhạy cảm với bụi, họ thấy rằng nguyên nhân gây ra dịch hen này khác hẳn. Về sau các bác sĩ đã phát hiện số bệnh nhân bị hen và bệnh chứng tăng lên khi nồng độ khí sunfurơ trong không khí tăng. Việc tiến hành giải phẫu những bệnh nhân tử vong đã chứng minh rằng nguyên nhân phát sinh dịch hen là do ô nhiễm không khí.

2. Nguyên nhân gây ra bệnh hen suyễn ở thành phố Tsuru

Thập kỉ 50 của thế kỉ XX, công nghiệp dầu mỏ của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, trong đó bao gồm cả thành phố Tsuru. Từ năm 1955 đến 1963, ở thành phố này đã lần lượt xây dựng ba xí nghiệp liên hợp hóa dầu. Hàng năm lượng khí sunfua, cacbon hiđroxit, các hợp chất nitric và các bụi thải vào không khí rất lớn làm ô nhiễm không khí nghiêm trọng.

Hàng năm lượng bụi và khí sunfua thải vào trong không khí đạt 13 vạn tấn. Nồng độ khí sunfua trong không khí vượt 5 – 6 lần mức tiêu chuẩn, tạo nên một lớp sương dày 500 m, trong đó trôi nổi nhiều loại bụi kim loại và những chất khí có hại. Các chất ô nhiễm này lại phản ứng với nhau, tạo thành axit sunfuric … dẫn đến bệnh hen. Dân cư thành phố Tsuru đã hít những chất khí hỗn hợp gồm sunfua, axit sunfuaric, chì, v.v.. Sau khi các chất khí này xâm nhập vào cơ thể sẽ hình thành axit sunfuric trên niêm mạc. Axit này lại làm tổn thương niêm mạc đường hô hấp, giảm thấp sức đề kháng, nhạy cảm với cảm nhiễm, cuối cùng dẫn đến bệnh hen.

 

3. Hậu quả của ô nhiễm không khí ở thành phố Tsuru

Năm 1964 sau mấy ngày liên tục xảy ra sương mù, những bệnh nhân hen ở thành phố Tsuru bắt đầu tử vong. Đến năm 1967 một vài bệnh nhân vì không chịu nổi đau khổ mà tự sát. Dịch hen lưu hành ở thành phố Tsuru làm hơn 10 người chết, hơn 800 người chịu hậu quả nghiêm trọng.


Ba thành phần chính của không khí
Bể lọc sinh học là gì?
Dùng nước thải để tưới ruộng, nên hay không?
Sinh vật trên Trái Đất có bao nhiêu loài?
Nuôi vi sinh cho nhà máy giết mổ gia súc từ bùn nhà máy bia có được không?
Ví dụ xử lý nước thải nhà máy bia (Phần 1/3)
Ví dụ về xử lý nước thải nước giải khát ở Nhật
3 quy trình xử lý nước thải thực phẩm
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

 

Bể lọc sinh học là công trình nhân tạo, nước thải được lọc qua lớp vật liệu rắn có bao bọc lớp màng vi sinh vật. Bể lọc sinh học bao gồm các thành phần như:

  • Phần chứa vật liệu lọc
  • Hệ thống phân phối nước đảm bảo tưới đều nước trên toàn bộ bề mặt bể
  • Hệ thống thu và dẫn nước sau khi lọc
  • Hệ thống dẫn và phân phối khí cho bể lọc

1. Bể lọc sinh học nhỏ giọt

Bể lọc sinh học nhỏ giọt có dạng hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn trên mặt bằng. Bể lọc sinh học nhỏ giọt làm việc theo nguyên tắc sau: nước thải sau bể lắng đợt một được đưa về thiết bị phân phối theo chu kỳ tưới đều nước trên toàn bộ bề mặt bể lọc. Nước thải sau khi lọc chảy vào hệ thống thu nước và được dẫn ra khỏi bể. Oxy cấp cho bể chủ yếu qua hệ thống lỗ xung quanh thành bể.

Vật liệu lọc của bể lọc sinh học nhỏ giọt thường là các hạt cuội, đá… có đường kính trung bình 20-30mm. Tải trọng nước thải của bể thấp (0.5 – 1.5 m3 nước thải trên 1m3, vật liệu lọc trong một ngày đêm). Chiều cao lớp vật liệu lọc trong bể 1.5 – 2.0 m. Hiệu suất xử lý nước thải theo chỉ tiêu BOD của bể cao (thường trên 90%). Bể dùng cho các trạm xử lý nước thải công suất dưới 1000m3/ngd.

Hiện nay người ta thường tính toán bể lọc sinh học nhỏ giọt dựa vào năng lực oxy hóa NO – lượng BOD được tách khỏi nước thải khi lọc qua 1m3 vật liệu lọc trong một đơn vị thời gian ngày đêm hoặc giờ. Trong điều kiện nhiệt độ nước thải sinh hoạt là 20 độ C đối với bể lọc có chiều cao lớp vật liệu lọc H – 2m, năng lực oxy hóa NO thường từ 0.08 đến 0.15 kg BOD5(m3/ngd)

2. Bể lọc sinh học cao tải

Bể lọc sinh học cao tải có các đặc điểm cấu tạo và quản lý khác với bể lọc sinh học nhỏ giọt. Vật liệu lọc của bể lọc sinh học cao tải thường là các loại cuội, đá …. Đường kính trung bình 40-70mm. Nước thải tưới lên mặt bể nhờ hệ thống phân phối phản lực nên bể cs dạng hình tròn trên mặt bằng. Bể có tải trọng thủy lực cao nên trong các trường hợp cần thiết khi BOD của nước thải quá lớn, người ta phải tiến hành pha loãng chúng bằng nước thải đã làm sạch (tuần hoàn nước). Nếu chiều cao lớp vật liệu lọc H lớn hơn 2m, bể phải được cấp khí cưỡng bức bằng hệ thống thông gió từ phía dưới đáy bể. Lượng khí B cấp cho bể từ 8-12m3/m3 nước thải. Bể được thiết kế cho các trạm  xử lý nước thải công suất dưới 50000m3/ngd.

Ngoài các loại bể lọc có vật liệu lọc dạng hạt, người ta còn dùng các loại bể có vật liệu lọc bằng nhựa tổng hợp hoặc xi măng amiang tấm, ống, tạo thành từng lớp. Các loại bể lọc này thường có công suất lớn (tải trọng thủy lực có thể tới 10m3 nước thải/ m3 vật liệu lọc.ngd). Đối với những nơi có lưu lượng nước thải nhỏ hơn 500m3/ngd, người ta còn dùng dĩad lọc sinh học có đường kính 2-3m và vận tốc quay 1-40 vòng/phút để XLNT. Tại phần đĩa quay ngập trong nước thải sẽ hình thành màng sinh vật, nhờ đó mà diễn ra các quá trình hấp thụ và oxy háo sinh hóa chất bẩn.

3. Vi sinh bổ sung vào bể lọc sinh học

Có 2 vi sinh thường được dùng để bổ sung vào bể lọc sinh học là Envirozyme 2.0Organica WWT

Đây là các vi sinh mầm khỏe mạnh được chọn lọc, với mật độ cao từ 5tỷ tế bào / gram giúp đẩy nhanh việc xử lý nước thải, ổn định chỉ tiêu BOD, COD và TSS.


Xem thêm:

Dùng nước thải để tưới ruộng, nên hay không?
Sinh vật trên Trái Đất có bao nhiêu loài?
Nuôi vi sinh cho nhà máy giết mổ gia súc từ bùn nhà máy bia có được không?
Ví dụ xử lý nước thải nhà máy bia (Phần 1/3)
Ví dụ về xử lý nước thải nước giải khát ở Nhật
3 quy trình xử lý nước thải thực phẩm
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

Dùng nước thải để tưới ruộng,
nên hay không?

Dùng nước thải để tưới ruộng đã có một lịch sử lâu đời. Thời kỳ trước Công nguyên, Trung Quốc cổ đại đã từng dùng nước thải để tưới ruộng. Về sau dùng nước thải tưới ruộng dần dần phát triển thành biện pháp vừa là để xử lí nước thải vừa kết hợp lợi dụng chúng.

1. Lợi ích của việc dùng nước thải để tưới ruộng

Trong nước thải của thành phố nói chung chứa nhiều chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của cây cối. Trung bình cứ 1 lít nước thải có 15 – 60 mg nitơ, 10 – 30 mg cađimi, 9 – 18 mg photpho và còn nhiều nguyên tố vi lượng khác. Do đó dùng nước thải để tưới ruộng vừa có thể tận dụng nguồn nước, tiết kiệm nước dùng cho nông nghiệp lại vừa có thể hấp thu những chất dinh dưỡng trong đó, làm cho cây cối phát triển. Đồng thời nó còn là một phương pháp xử lí nước thải kinh tế và tiết kiệm năng lượng.

2. Vì sao người ta không khuyến khích dùng nước thải để tưới cho ruộng nữa?

Dùng nước thải tưới ruộng có nhiều lợi ích như vậy. Nhưng tại sao người ta lại không khuyến khích dùng nước thải để tưới ruộng nữa? Bất cứ sự vật, sự việc gì đều có hai mặt lợi và hại. Trước đây người ta thường chỉ thấy mặt lợi ích mà xem nhẹ mối nguy hại rất lớn cho con người.

Related image

2.1: Nước thải có thể chứa các kim loại nặng

Dùng nước thải để tưới ruộng tất nhiên có nhiều ưu điểm, nhưng điều đó phải bảo đảm là chất lượng của nước thải phải đạt một tiêu chuẩn nhất định. Vì năng lực làm sạch của đất là có hạn. Vượt quá giới hạn này sẽ bị nước thải làm biến chất. Nước thải sinh hoạt có thể chứa những vi khuẩn gây bệnh như nước thải của bệnh viện và một số nhà máy chế tạo các sản phẩm sinh vật. Trong nước thải công nghiệp có thể chứa nhiều loại độc tố, nhiều chất có hại, đặc biệt là có thể chứa những kim loại nặng có hại mà các sinh vật không thể phân giải được chúng.

2.2: Nước thải có thể còn các chất độc hóa học

Có một số chất độc hóa học rất ổn định, như loại chất có gốc clo, sinh vật không thể phân giải được. Cho nên nếu không thông qua những xử lí thích hợp mà trực tiếp dùng nước thải công nghiệp hoặc nước thải đô thị để tưới ruộng sẽ khiến vệ sinh môi trường xấu đi, hoặc lan truyền rộng rãi các bệnh truyền nhiễm và các bệnh kí sinh trùng.

Ví dụ năm 1955 ở Nhật Bản đã từng phát sinh “bệnh đau nhức”, đó là vì cả một thời gian dài dùng nước thải của các nhà máy luyện chì và kẽm để tưới ruộng khiến cho đất đai và lúa tăng hàm lượng cadimi, sau khi người ăn phải đã bị ngộ độc và gây bệnh. Do đó để tránh cho đất đai, nông sản và sức khỏe của con người bị ảnh hưởng, người ta đã không đề xướng biện pháp dùng nước thải để tưới ruộng.

 

*Nguồn: Sách “10 vạn câu hỏi vì sao – Khoa học môi trường” – Tác giả Nguyễn Văn Mậu


Xem thêm:

Nuôi vi sinh cho nhà máy giết mổ gia súc từ bùn nhà máy bia có được không?
Ví dụ xử lý nước thải nhà máy bia (Phần 1/3)
Ví dụ về xử lý nước thải nước giải khát ở Nhật
3 quy trình xử lý nước thải thực phẩm
4 bước nuôi cấy vi sinh F33 cho nước thải sinh hoạt
Tính chất của nước thải ngành chế biến thực phẩm
4 cách loại bỏ TSS trong nước thải cao su
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 1/2)
Quá trình sản xuất cao su tự nhiên (Phần 2/2)
3 bước khử mùi hôi nước thải nhờ vi khuẩn và than hoạt tính ở Úc

 

X