Khi xử lý sự cố bể hiếu khí, chúng ta thường có cảm giác bọt giảm thì nước cũng phải trong dần. Nhưng thực tế hai hiện tượng này không phải lúc nào cũng cải thiện cùng lúc.
Flash CT vừa theo dõi một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt khoảng 300 m³/ngày đang gặp tình huống này. Bọt bể hiếu khí giảm nhưng nước vẫn đục. Vậy hệ vi sinh đang phục hồi hay đang gặp vấn đề?

Tình trạng hệ thống trước khi phục hồi
Ngày 19/8, trước khi tiến hành cấy bổ sung vi sinh, bể hiếu khí nổi bọt rất nhiều. Có thời điểm bọt trào lên khỏi miệng bể. Mẫu SV30 cùng thời điểm cho thấy:
- Bùn vẫn có khả năng lắng nhưng bùn có màu đen.
- Nước phía trên có màu vàng nâu và khá đục.
- Hệ vi sinh chưa ở trạng thái ổn định.
Từ ngày 20/8, hệ thống bắt đầu được bổ sung vi sinh Quick Start để hỗ trợ phục hồi hệ vi sinh.
Sau vài ngày cấy vi sinh nước bắt đầu trong hơn
Một thay đổi khá rõ xuất hiện từ ngày 21–23/8. Kiểm tra mẫu SV30 thấy bùn lắng nhanh, lớp nước phía trên bắt đầu trong hơn. Đến ngày 23/8, khả năng lắng bùn nhìn bằng mắt thường đã tốt hơn đáng kể so với thời điểm đang bị sự cố.
Điều này cho thấy vi sinh hiếu khí đang có phản ứng tích cực. Tuy nhiên, bọt tại bể hiếu khí lúc này chỉ giảm chứ vẫn còn tương đối nhiều. Nếu chỉ nhìn vào lượng bọt, có thể chúng ta sẽ nghĩ hệ chưa phục hồi tốt. Nhưng mẫu SV30 lại cho thấy một câu chuyện khác: nước đang trong dần dù bọt chưa hết.




Ngày 25/8: Bọt bể hiếu khí giảm nhưng nước vẫn đục
Đây là điểm đáng chú ý nhất của trường hợp này. Đến ngày 25/8, lượng bọt ở bể hiếu khí đã giảm khá rõ so với những ngày đầu. Thông thường, bọt hiếu khí giảm thì nước phải trong hơn. Nhưng buổi sáng khi lấy mẫu SV30 kiểm tra, kết quả lại ngược lại:
Bùn vẫn lắng xuống nhưng nước phía trên đục hơn ngày 23/8. Điều này có nghĩa hệ vi sinh đang xấu đi? gặp tình huống này Flash cũng suy nghĩ đau hết đầu nhưng chưa thể kết luận như vậy.
Bọt hiếu khí giảm và nước trong không phải nào cũng vậy
Đây là điểm quan trọng khi đánh giá một hệ thống bùn hoạt tính. Lượng bọt trên bể hiếu khí chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tải hữu cơ, chất hoạt động bề mặt, dầu mỡ, đặc tính nước thải, trạng thái bùn và hoạt động của hệ vi sinh.
Trong khi đó, độ trong của nước sau lắng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hình thành bông bùn và tách bùn – nước. Vì vậy hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng: Bọt bể hiếu khí giảm nhưng nước vẫn đục.
Hoặc ngược lại Bọt vẫn còn → nhưng khả năng lắng và độ trong của nước đã cải thiện. Do đó, không nên sử dụng riêng lượng bọt để kết luận hệ vi sinh khỏe hay yếu.
Vậy tại sao bùn lắng xuống nhưng nước phía trên vẫn đục?
Quan sát mẫu ngày 25/8, phần bùn chính vẫn có khả năng lắng xuống đáy. Điểm thay đổi lớn nằm ở lớp nước phía trên. Trong nước có nhiều bùn li ti lơ lửng hơn. Trường hợp này Flash nghĩ đến khả năng bông bùn nhỏ hoặc sinh khối phân tán.
Khi bông bùn đủ lớn và chắc, chúng sẽ kéo theo các hạt nhỏ và lắng xuống tương đối nhanh. Nhưng nếu bông còn nhỏ, đang trong quá trình hình thành hoặc bị tác động bởi điều kiện vận hành, một phần chất rắn mịn vẫn có thể tồn tại trong pha nước.
Kết quả là nhìn bên dưới vẫn thấy bùn lắng nhưng nước phía trên SV30 không trong.
Có phải cứ nước đục là cần tăng bổ sung thêm vi sinh?
Trong trường hợp này, việc tăng liều vi sinh ngay khi thấy nước đục có thể chưa phải là bước đầu tiên. Trước tiên nên kiểm tra các thông số môi trường như:
DO: nên đảm bảo đủ oxy cho quá trình sinh học nhưng cũng cần tránh sục khí quá mạnh tại một số vị trí gây tác động đến cấu trúc bông bùn.
pH: duy trì trong vùng phù hợp với hệ vi sinh khoảng 7.2-7.6
SV30: không chỉ nhìn thể tích bùn sau 30 phút mà phải quan sát cả tốc độ lắng và độ trong của lớp nước phía trên.
MLSS: kết hợp MLSS với SV30 để đánh giá lượng sinh khối và tính SVI khi cần.
Tải lượng đầu vào: nước thải sinh hoạt có thể thay đổi khá mạnh theo thời điểm cao điểm hoặc thấp điểm, đặc biệt khi lượng chất tẩy rửa, dầu mỡ hoặc tải hữu cơ thay đổi.
Một cách kiểm tra SV30 đơn giản nhưng rất hữu ích
Thay vì chỉ nhìn mẫu sau 30 phút, có thể lấy cùng một mẫu và quan sát tại:
5 phút → 30 phút → 60 phút → 120 phút.
Nếu bùn tiếp tục lắng xuống và nước trong dần theo thời gian, có thể bông bùn đang nhỏ hoặc tốc độ lắng còn chậm.
Ngược lại, nếu sau 1–2 giờ bùn đã lắng xuống đáy nhưng lớp nước phía trên vẫn đục, cần kiểm tra hiện tượng bùn mịn hoặc vi sinh phân tán. Cách theo dõi này đặc biệt hữu ích trong giai đoạn đang phục hồi hệ vi sinh.
Điều đáng chú ý sau 5 ngày theo dõi
Nếu chỉ so sánh ngày 23 và 25/8, việc bọt bể hiếu khí giảm nhưng nước vẫn đục có thể khiến người vận hành nghĩ hệ thống đang xấu đi.
Nhưng khi đặt toàn bộ chuỗi mẫu từ ngày 19 đến 25/8 cạnh nhau, có thể thấy hệ đã có những thay đổi tích cực so với thời điểm ban đầu. Đặc biệt, lượng bọt từng trào mạnh khỏi bể đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, khả năng tạo bông và độ trong của nước vẫn chưa ổn định.
Do đó, ở giai đoạn này Flash CT ưu tiên tiếp tục theo dõi thay vì can thiệp mạnh hoặc tăng liều vi sinh ngay lập tức.
Kết luận
Một hệ vi sinh hiếu khí đang phục hồi không phải lúc nào cũng theo một hướng nhất định, mà nó có thể xảy ra biến số. Như vậy chúng ta cần kiểm tra theo các dấu hiệu sau:
Bọt giảm trước → bông bùn tiếp tục thay đổi → nước có thể đục tạm thời → sau đó khả năng tạo bông và tách nước mới ổn định dần.
Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả phục hồi hệ vi sinh, không nên chỉ nhìn bọt hoặc một mẫu SV30 tại một thời điểm.
Cần theo dõi đồng thời bọt, màu bùn, SV30, độ trong, DO, pH, MLSS và chất lượng nước đầu ra trong nhiều ngày.
Đối với trường hợp này, Flash CT sẽ tiếp tục theo dõi hệ thống để đánh giá liệu bông bùn có tiếp tục cải thiện, bọt bể hiếu khí giảm nhưng nước vẫn đục hay trong trở lại trong những ngày tiếp theo hay không.
