Nước Thải Sinh Hoạt Và Những Điều Cần Biết

Nước Thải Sinh Hoạt Và Những Điều Cần Biết

Nước Thải Sinh Hoạt Và Những Điều Cần Biết

Phân loại nước thải sinh hoạt

Nước đen là nước thải từ nhà vệ sinh, chứa phần lớn các chất ô nhiễm, chủ yếu là các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh và cặn lơ lửng.

Nước xám là nước phát sinh từ các quá trình: rửa, tắm, giặt với thành phần các chất ô nhiễm không đáng kể.

Tính chất và thành phần ô nhiễm cảu nước thải sinh hoạt

Các chất chứa trong nước thải bao gồm: các chất hữu cơ, vô cơ và vi sinh vật. Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các hợp chất như protein, hydratcarbon gồm tinh bột, đường và xenlulo; và các chất béo. Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150 – 450 mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng 20 – 40% chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học. Ở những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh hoạt không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Tác động của nước thải sinh hoạt

Sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng tới hệ sinh thái môi trường nước. Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm như: H2S, NH­3, CH4,… làm cho nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường.

Nitơ và photphat là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, thường có trong quá trình chế biến thức ăn hay có trong thức ăn dư thừa. Khi các chất dinh dưỡng này quá nhiều sẽ thúc đẩy sự phát triển của các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm nước, tải thực vật nổi. Dẫn đến suy giảm nghiêm trọng hàm lượng oxy hòa tan là yếu tố cơ bản của quá trình tự làm sạch nguồn nước, giảm đáng kể độ trong của nước.

Sự thiếu dưỡng khí làm giảm khả năng tự làm sạch nguồn nước cùng với sự phân hủy chất hữu cơ làm nước nhiễm bẩn có mùi khó chịu, pH nước giảm. Chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học và các chất tiêu thụ oxy trong nước thải làm suy kiệt hàm lượng oxy hòa tan trong nước, do trong nước thải sinh hoạt bị ô nhiễm hữu cơ đòi hỏi một lượng oxy cung cấp cho vi khuẩn để tự làm sạch. Dầu mỡ gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt.

Vi sinh vật gây bệnh: Số lượng vi sinh vật chủ yếu là vi khuẩn có trong nước thải rất lớn (khoảng 105 – 109 tế bào/ml). Ngoài việc đóng vai trò trong việc phân hủy chất hữu cơ, cùng với các khoáng chất khác dùng làm chất nuôi tế bào vi khuẩn và đồng thời làm sạch nước thải, các vi sinh vật còn có một số vi khuẩn gây bệnh (E.Coli, Coliform,…). Các loài vi sinh vật hiện hữu trong nước thải đưa ra góp phần làm cho các bệnh, đặc biệt là bệnh đường ruột (thương hàn, tả lị,…) gia tăng do lây lan qua đường ăn uống và sinh hoạt.

Nước thải sinh hoạt thường có màu đen hay màu tối gây mất mỹ quan. Chất tẩy rửa là những chất hữu cơ bền vững, có độc tính cao đối với con người. Chất tẩy rửa thường có 10 – 30% là các chất hoạt động bề mặt, 12% các chất phụ gia và một số chất độc hại khác. Các chất tẩy rửa trong nước thải gây cảm giác khó chịu, giảm khả năng khuếch tán khí vào nước. Các chất tẩy rửa còn làm thực vật trong nước phát triển. Khi polyphotphat phân hủy trong nước thải tạo thành các ion photphat, là nguồn dinh dưỡng cho các loại tảo, vi sinh vật bậc thấp.

Vi sinh F33 chứa 33 chủng sinh vật hiếu khí, kỵ khí và tùy nghi, được sản xuất đặc biệt để xử lý nước thải sinh hoạt, chế biến thực phẩm và nhà hàng, khách sạn. Phân hủy chất hữu cơ, protein, cacbonhydrat, chất béo, dầu và mỡ trong nước thải sinh hoạt. Giúp giảm BOD, COD, TSS, làm trong nước, tăng đáng kể khả năng lắng, phân hủy chất tẩy rửa, chất hoạt động bề mặt

 

 

leave a Comment

You must be logged in to post a comment.


X