Month: December 2018

Nước thải dệt nhuộm có chứa các hợp chất có thể gây độc cho vi sinh vật. Ngoài ra, thành phần của nó thay đổi rất nhiều từ ngày này sang ngày khác. Do đó mà dùng màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm là một giải pháp hay.

Màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm là gì?

Màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm có thể có một số loại: hạt vi sinh vật được tổng hợp một cách tự nhiên, một lớp vi sinh vật bám trên bề mặt tĩnh như ống, hoặc một lớp vi sinh vật phát triển trên chất mang lơ lửng (Nicolella et al. 2000). Tất cả các hình thức này đều được áp dụng trong xử lý nước. Ví dụ phổ biến nhất là lọc nhỏ giọt.

Xem thêm:

Xử Lý Sinh Học Nước Thải Dệt Nhuộm

Màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm có một số lợi thế. Đầu tiên, chúng cho phép lưu giữ sinh khối mà không cần bể lắng, có nghĩa là hệ thống yêu cầu diện tích nhỏ hơn và cần ít năng lượng hơn so với thông thường. Ngoài ra, các hợp chất trong nước phải vượt qua một rào cản do chính màng sinh học tạo ra và do đó tạo ra một dải nồng độ trong màng sinh học (Nicolella et al. 2000, Cresson et al. 2006).

Các lớp vi sinh vật trong màng sinh học

Dãi nồng độ này kích thích sự phát triển của các vi sinh vật khác nhau ở độ sâu khác nhau của màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm. Lớp trong cùng được bảo vệ chống lại các phân tử độc hại, trong khi đó lớp trên cùng tiếp xúc nhiều hơn và là nơi trú ngụ của các vi sinh vật ít nhạy cảm hơn. Nhìn chung, và cũng nhờ các polysacarit ngoại bào được sản xuất bởi các vi sinh vật, màng sinh học sẽ có khả năng chống lại áp lực tốt hơn một hệ thống tế bào lơ lửng (Cresson et al. 2006).

Nghiên cứu về màng sinh học trong nước thải dệt nhuộm

Các nghiên cứu sinh học được thực hiện trong hai lò phản ứng màng sinh học kỵ khí, trong đó các chất mang Poraver (hạt thủy tinh xốp nhận được từ Dennert Poraver GmbH, Schlüselfeld, Đức) đã được sử dụng làm vật liệu hỗ trợ cho màng sinh học bắt nguồn từ bùn kỵ khí. Hình 1 cho thấy sơ đồ của phản ứng.

Hệ thống được vận hành ở chế độ liên tục xử lý nước thải tổng hợp có nguồn carbon là tinh bột. Độ bền của màng sinh học liên quan đến nồng độ thuốc nhuộm (Remazol Red) và độ mặn (natri clorua) cũng được nghiên cứu vì đó là những đặc điểm chính của nước thải dệt thực sự. Cả hai ion natri và clorua đều có thể ức chế các chức năng của vi sinh vật bằng cách tăng áp suất thẩm thấu và do đó gây ra vỡ tế bào và hậu quả là chết (Vyrides và Stuckey 2009). Trong phần cuối của công việc, các lò phản ứng màng sinh học đã được sử dụng để xử lý nước thải dệt may thực sự nhận được từ công ty Ten Cate, Hà Lan.


Xem thêm:

 


Các quá trình sinh học thường là lựa chọn ưu tiên để xử lý nước thải. Nguyên do là ít tác động đến môi trường và chi phí thấp so với các loại phương pháp xử lý khác. Xử lý sinh học chỉ cần một chút hoặc không hóa chất và năng lượng. Xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm phổ biến nhất trong nhà máy dệt may hiện nay (Carneiro et al. 2010).

Các vi sinh vật có thể làm mất màu thuốc nhuộm azo là cần thiết để xử lý hiệu quả nước thải dệt. Những vi sinh vật này cần phải có các enzyme như azoreductase và oxyase. Enzyme đầu tiên được yêu cầu để cắt các liên kết azo và làm cho các amin thơm dễ tiếp cận hơn. Oxidase là cơ bản để phá vỡ các amin thơm được phát hành trước đó. Thách thức là tìm ra các vi sinh vật có nguồn gốc oxy hóa có thể phá vỡ tất cả các thuốc nhuộm azo và phát triển mạnh khi có muối và các điều kiện khác điển hình của nước thải dệt. Vì lý do này, điều quan trọng là tiếp tục tìm kiếm các vi sinh vật trong môi trường tự nhiên.

Xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm: quá trình kỵ khí

Các vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí đều có thể hữu ích cho việc xử lý nước thải dệt nhuộm. Enzyme có hoạt tính azoreductase đã được tìm thấy trong nhiều loại vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí bao gồm vi khuẩn, nấm và tảo. Các oxyase thú vị nhất đã được xác định trong các vi sinh vật sống trong điều kiện hiếu khí.

Các quá trình kỵ khí xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm sử dụng các nhóm vi sinh vật (bùn kỵ khí hoặc màng sinh học) là các hoạt chất thường được sử dụng để xử lý nước thải dệt may (Firmino et al. 2010, Spagni et al. 2012). Các quá trình như vậy có hiệu quả trong việc giảm hàm lượng hữu cơ của nước thải và cũng trong việc loại bỏ màu bằng cách giảm các liên kết azo (Papers II, III và IV).

Vi sinh kỵ khí Anaerobic Digester Treatment của Organica là một giải pháp giúp quá trình xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm đạt hiệu quả.

Vi sinh kỵ khí Anaerobic Digester Treatment

Ưu điểm so với các quá trình hiếu khí là chúng xử lý tải trọng hữu cơ cao hơn, không cần sục khí và tạo ra ít bùn hơn. Trong công trình này, khả năng nuôi cấy kỵ khí để loại bỏ màu và hàm lượng hữu cơ đã được thử nghiệm đầu tiên hàng loạt với ba thuốc nhuộm azo Remazol Red, Remazol Yellow và Remazol Blue (Paper II). Hình dưới đây cho thấy màu sắc dễ dàng bị loại bỏ trong vòng ba ngày kể từ khi ủ.

Xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm: quá trình hiếu khí

Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng quá trình hiếu khí xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm làm mất màu thuốc nhuộm sau khi xử lý kỵ khí (Kapdan và Alparslan 2005; Frijters et al. 2006, Jonstrup et al. 2011). Ý tưởng là các vi sinh vật hiếu khí có các enzyme oxy hóa có thể phá vỡ các amin thơm được giải phóng trong quá trình loại bỏ màu kỵ khí (Hình 2).

Tùy thuộc vào cấu trúc hóa học của các sản phẩm phân hủy và các enzyme có trong hệ thống, sự phân hủy hiếu khí có thể hoạt động hoặc không và trong một số trường hợp các phân tử hữu cơ độc hại vẫn tồn tại trong nước thải (GarciaMontano et al. 2008a, Coleues da Silva et al. 2012). Các sản phẩm còn lại có thể là các amin thơm, nhưng cũng có các axit cacboxylic và các chất hữu cơ nhỏ khác (Kudlich et al. 1999, Isik 2004, Ozdemir et al. 2013).

Vi sinh hiếu khí WWT của Organica là một giải pháp giúp quá trình xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm đạt hiệu quả.

Chế Phẩm Vi Sinh Xử Lý Nước Thải WWT

Những kết quả này chỉ ra rằng các phương pháp xử lý sinh học có thể phải được bổ sung bằng các quá trình hóa lý để thu được nước thải không chứa các hợp chất độc hại.

Khử màu thuốc nhuộm bằng Nấm

Nuôi cấy tinh khiết cũng đã được sử dụng để phân hủy thuốc nhuộm azo. Nấm thối trắng, một loại basidiomycete hay còn được gọi là nấm thân gỗ, đã cho một kết quả đầy hứa hẹn(Axelsson et al. 2006). Những loại nấm này sản xuất các enzyme ngoại bào để phân hủy lignin. 

Lignin là một phân tử hữu cơ phức tạp bao gồm nhiều vòng thơm liên kết với nhau. Thuốc nhuộm Azo có phần giống với cấu trúc của lignin và các nhà nghiên cứu đã đề xuất rằng các enzyme phân giải lignin cũng có thể làm suy giảm thuốc nhuộm azo. Ý tưởng này đã được chứng minh là đúng, và do đó, cả nấm thối trắng và enzyme oxy hóa của chúng đã được sử dụng để phân hủy thuốc nhuộm (Mendoza et al. 2011, Jonstrup et al. 2013). Tuy nhiên, sử dụng nuôi cấy tinh khiết để xử lý nước thải vẫn là một thách thức. Trên thực tế, các vi sinh vật không mong muốn  trong nước sẽ bắt đầu phát triển và vượt trội hơn nấm thối trắng do đó làm mất ổn định hệ thống (Libra et al. 2003).


Xem thêm:

Phân Tích Nước Thải Dệt Nhuộm

Thuốc Nhuộm Trong Ngành Dệt Nhuộm

Vì Sao Nước Thải Dệt Nhuộm Khó Xử Lý?


 

Phân tích nước thải dệt nhuộm là công việc đầy thách thức vì bản chất phức tạp của nước thải loại này. Tuy nhiên, kiến ​​thức về thành phần của nước thải rất quan trọng để lựa chọn một chiến lược xử lý phù hợp. Phân tích nước thải là điều cần thiết để xác định hiệu quả của việc xử lý.

Các phân tích như vậy nên tập trung vào việc đo lường loại bỏ hàm lượng chất dinh dưỡng và chất dinh dưỡng, mà còn về sự xuống cấp của thuốc nhuộm và các hợp chất hữu cơ độc hại hoặc thoái hóa khác nếu có. Phân tích các chế phẩm thuốc nhuộm rất quan trọng vì chúng không chỉ chứa các phân tử thuốc nhuộm hoạt động mà còn cả các sản phẩm phụ. Ngoài ra, cần theo dõi độc tính để đảm bảo rằng nước thải được xử lý sẽ không gây hại cho vùng nước tiếp nhận và các hệ sinh thái xung quanh.

Phân tích nước thải dệt nhuộm: Đánh giá việc loại bỏ BOD, COD, TOC

Các phân tích nước thải dệt nhuộm thông thường được sử dụng để đo lường và đánh giá việc loại bỏ hàm lượng hữu cơ. ví dụ như BOD, COD và tổng lượng carbon hữu cơ (TOC). BOD là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa sinh học của các chất hữu cơ có trong nước thải. COD là thước đo lượng oxy cần thiết để oxy hóa hóa học các hợp chất hữu cơ và vô cơ có trong nước thải. Do đó, BOD luôn thấp hơn COD và tỷ lệ của chúng là một dấu hiệu cho thấy khả năng phân hủy sinh học của các chất gây ô nhiễm có trong nước.

Máy đo BOD

TOC đo tất cả các carbon hữu cơ có trong nước thải, bao gồm cả phần không thể bị oxy hóa. Ngoài hàm lượng hữu cơ, cần đo nồng độ của các chất dinh dưỡng khác như các ion vô cơ. Cần chú ý đặc biệt đến sự hiện diện của muối, đặc biệt là natri clorua, được sử dụng ở nồng độ cao để cải thiện sự liên kết của thuốc nhuộm với vải và do đó có nhiều trong nước thải.

Xem thêm: 

2 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Bằng Phân Tích COD

Đánh giá độ màu của thuốc nhuộm 

Phương pháp

Một phương pháp đơn giản nhưng đáng tin cậy để đánh giá thuốc nhuộm suy giảm là dựa trên khả năng hấp thụ ánh sáng của chúng. Độ hấp thụ UV nhìn thấy rất hữu ích để đánh giá chất lượng của nước thải dệt và hiệu suất của quá trình xử lý. Thuốc nhuộm có thể hấp thụ ánh sáng trong phạm vi nhìn thấy được, nhưng khi chúng phân hủy, chúng mất khả năng này.

Thuốc nhuộm Azo đặc biệt trải qua sự phân tách liên kết azo khá dễ dàng. Dẫn đến sự hình thành các amin thơm và đồng thời màu sắc biến mất. Các amin này, mặc dù không màu, độc hại nhưng gây đột biến và bị phân giải thành các hợp chất vô cơ (nếu có thể).

Bước sóng đánh giá thuốc nhuộm và các amin thơm

Hầu hết các thuốc nhuộm và các amin thơm được tạo ra do quá trình khử màu cũng có thể hấp thụ ánh sáng trong phạm vi UV nhờ các cấu trúc thơm. Vì vậy, có thể theo dõi sự suy giảm của các cấu trúc này bằng cách đo độ hấp thụ tia cực tím. Mỗi thuốc nhuộm có phổ hấp thụ cụ thể, hữu ích cho các hệ thống chỉ có một phân tử thuốc nhuộm tham gia.

Hình 3 cho thấy phổ hấp thụ UV-visible của thuốc nhuộm azo Remazol Red, một trong những thuốc nhuộm được sử dụng trong nghiên cứu, với hai cực đại đặc trưng ở bước sóng 290nm và 516nm. Khi không thể theo dõi một bước sóng cụ thể, sự suy giảm của các cấu trúc thơm có thể được ước tính bằng cách đo độ hấp thụ ở bước sóng 254nm. Trong thực tế, bước sóng này thường được sử dụng để theo dõi sự hiện diện của các hợp chất thơm trong nước.

Theo dõi sự khử màu thuốc nhuộm azo:

Sự suy giảm thuốc nhuộm azo và các hợp chất hữu cơ phức tạp khác cũng có thể được theo dõi bằng cách sử dụng HPLC kết hợp với máy dò mảng diode (DAD), sau đó là phép đo phổ khối (MS). Tuy nhiên, nước thải dệt thường bao gồm rất nhiều hợp chất, hầu hết trong số chúng có cấu trúc hóa học chưa biết nên việc phân tích chi tiết và hợp lý sẽ tốn thời gian và kinh phí đáng kể. Ngoài ra, không thể xác định chính xác các chất trung gian, đặc biệt là khi các quá trình oxy hóa tiên tiến được sử dụng để xử lý, do thiếu các tiêu chuẩn do đó việc ghép LC-MS với cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) là cần thiết (Hisaindee et al. 2013).

Tuy nhiên, sẽ rất đáng quan tâm để tìm hiểu mức độ thuốc nhuộm bị biến chất về mặt sinh học và những gì còn lại trong nước thải sau khi xử lý. Sẽ rất thú vị hơn khi kết hợp thông tin này với dữ liệu về độc tính, để có thể xác định được các hợp chất chịu trách nhiệm về độc tính và đặc biệt là gây đột biến. Mặt khác, thành phần của nước thải dệt thực sự thay đổi rất nhiều từ ngày này sang ngày khác tùy thuộc vào các hóa chất được sử dụng. Vì vậy, các phương pháp đơn giản và nhanh hơn để đánh giá các quá trình điều trị là bắt buộc.


Xem thêm:

Thuốc Nhuộm Trong Ngành Dệt Nhuộm

Vì Sao Nước Thải Dệt Nhuộm Khó Xử Lý?

Xử Lý Mùi Hôi Ở Nhà Máy Xử Lý Nước Thải Bằng Cách Nào?


Thuốc nhuộm trong ngành dệt nhuộm và bột màu ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta. Mọi người đã học sớm trong lịch sử của họ cách trích xuất màu sắc từ tài nguyên thiên nhiên và sử dụng chúng để vẽ các vật thể hàng ngày và thể hiện các kỹ năng và tâm linh của họ.

Thuốc nhuộm trong ngành dệt nhuộm được phát hiện như thế nào?

Năm 1856, một sinh viên trẻ tên là William Perkin đã tạo ra thuốc nhuộm tổng hợp lần đầu tiên do nhầm lẫn. Thuốcn này có tên mauveine, sử dụng nhựa than đá. Trên thực tế, ông đã cố gắng tổng hợp quinine, một hợp chất dùng để chữa bệnh sốt rét. Ông sớm nhận ra rằng dung dịch màu tím đó có thể tạo màu cho lụa và nhanh chóng hiểu được tầm quan trọng của phát hiện này. Tai nạn đó đã khiến ông ấy nổi tiếng và thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ của ngành dệt may.

Trên thực tế, công nghệ dệt nhuộm được sử dụng cho đến lúc đó giống như thời La Mã. Thuốc nhuộm tổng hợp là một sự cải tiến lớn vì chúng là các phân tử ổn định, liên kết vải bền hơn so với thuốc nhuộm tự nhiên và màu sắc thì sống động (Holme 2006).

Tác hại của thuốc nhuộm trong ngành dệt nhuộm

Thuốc nhuộm tổng hợp có thể gây độc cho con người bằng cách gây dị ứng và mẫn cảm với da hoặc phổi. Ngoài ra, một số thuốc nhuộm và các dẫn xuất của chúng gây đột biến và do đó đã được lập chỉ mục (Nghị viện châu Âu 2002). Tuy nhiên, một số thuốc nhuộm gây ung thư vẫn có thể được sử dụng và các sản phẩm được nhuộm cùng với chúng cũng được bán tại dù bị cấm. Người lao động phải chịu hậu quả lớn nhất. Tuy nhiên, các sinh vật sống tiếp xúc với chất thải chịu chung số phận khi các nhà máy không xử lý nước thải và chất thải hiệu quả.

Phân loại thuốc nhuộm như thế nào?

Thuốc nhuộm được phân loại theo loại hóa chất của chúng (azo, anthraquinone, chàm, trên) và theo phương pháp ứng dụng của chúng (axit, trực tiếp, phản ứng, đá). Thuốc nhuộm Azo là thuốc nhuộm phổ biến nhất và cũng là thuốc nhuộm gây lo ngại lớn nhất về tính đột biến và gây ung thư (O’Neill et al. 1999). Đặc điểm chính của chúng là sự hiện diện của một hoặc nhiều liên kết azo (-N = N-) liên kết các cấu trúc thơm. Liên kết azo có thể được phân cắt hóa học hoặc sinh học để giải phóng các amin thơm, thường độc hại hơn hợp chất mẹ và gây đột biến. Thuốc nhuộm Azo có màu sắc mạnh hơn thuốc nhuộm anthraquinone và lợi thế này, cùng với chi phí sản xuất rẻ, chúng đã thống trị thị trường (Koh 2011).

Hình dưới cho thấy cấu trúc hóa học của thuốc nhuộm azo 4-aminoazobenzene và các amin thơm được giải phóng sau khi phân tách liên kết azo, anilin và phenylenediamine.

Hình này cũng làm nổi bật chromophore và bổ trợ của thuốc nhuộm. Một chromophore là một cấu trúc hóa học liên hợp và là một phần của phân tử chịu trách nhiệm cho màu sắc của nó. Các ví dụ khác về chromophores là nhóm nitro và carboxyl.

Thách thức khi xử lý nước thải dệt nhuộm:

Các ngành công nghiệp dệt may thường sử dụng thuốc nhuộm thương mại được sản xuất bởi các công thức được bảo vệ bởi nhãn hiệu, đây là một thách thức bổ sung cho việc xử lý nước thải. Các công thức này chứa hỗn hợp thuốc nhuộm, muối và các chất phụ gia khác tạo điều kiện thuận lợi và cải thiện sự liên kết với vải.

Các thuốc nhuộm được sử dụng nghiên cứu này là một ví dụ bảo hộ thương mại với công thức hóa học chưa biết. Chúng được gọi là Remazol Red, Remazol Blue và Remazol Yellow, nhận được từ Greetings Knitwear, một khách hàng từ Tirupur, Ấn Độ. Theo nhà sản xuất thuốc nhuộm, Remazol chứa 50 đến 60% thuốc nhuộm, 30 đến 40% muối vô cơ và 5% phụ gia. Remazol Red chứa hỗn hợp thuốc nhuộm azo; Remazol Blue chứa hỗn hợp thuốc nhuộm diazo-divinylsulfone và thuốc nhuộm phức hợp đồng formazan vinyl vinylsulfone.

Một số thuốc nhuộm azo chứa kim loại phối hợp trong cấu trúc của chúng, đây là một vấn đề cho môi trường và có thể ảnh hưởng đến việc xử lý nước thải. Do đó, điều cần thiết là phải lắp đặt các cơ sở xử lý nước thải thích hợp với các nhà máy dệt nhuộm để tránh xả nước chứa thuốc nhuộm azo ra môi trường.


Xem thêm:

Vì sao nước thải dệt nhuộm khó xử lý?
17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 1/3)
17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 2/3)
17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 3/3)
3 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Trong Nước Thải (P1)
2 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Bằng Phân Tích COD
Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica
Xử lý mùi hôi trong nhà máy XLNT bằng cách nào?
Kiểm tra hệ thống XLNT sinh hoạt trong 5 phút


 

Nước thải dệt nhuộm khó xử lý chủ yếu do hàm lượng chất hữu cơ, vô cơ cao; thuốc nhuộm và các hóa chất độc hại ức chế hoạt động của vi sinh vật phân hủy sinh học. Tính chất nước thải dệt nhuộm được trích trong nghiên cứu về xử lý sinh học nước thải dệt nhuộm của giáo sư đại học Lund – Thụy Điển.

Một lượng lớn nước chất lượng cao là cần thiết để xử lý ướt vải. Tùy thuộc vào sắc thái, kỹ thuật và hóa chất được sử dụng trong một quy trình dệt nhất định, mức tiêu thụ ước tính sẽ tăng từ 50 đến 240l nước cho mỗi kg vải thành phẩm (Blomqvist 1996, Kocabas et al. 2009) hoặc ở một thành phố như Tirupur như 90 triệu lít nước mỗi ngày (Blomqvist 1996).

Nước thải dệt nhuộm khó xử lý do hàm lượng hữu cơ, vô cơ cao.

Hàm lượng của nước thải có thể khác nhau, nhưng về cơ bản, tính chất nước thải dệt nhuộm là: hàm lượng hữu cơ cao; các hợp chất vô cơ như natri hydroxit, natri hypoclorit, natri sunfua, axit clohydric và natri clorua; dung môi và chất tẩy rửa. Ngoài ra, nước thải dệt thường có nhiệt độ và pH cao từ 4 đến 12 (Blomqvist 1996, Verma et al. 2012). Sợi không hòa tan thường có trong nước thải và có thể gây tắc nghẽn đường ống.

Các dòng nước thải được tạo ra trong các bước khác nhau của quy trình dệt được pha trộn để tạo thành cái gọi là nước thải dệt. Nước thải được tạo ra trong các bước chuẩn bị thường bao gồm các chất định cỡ như tinh bột, rượu polyvinyl (PVA), carboxymethyl cellulose (CMC) và axit polyacrylic, các enzyme được sử dụng để loại bỏ các chất định cỡ, xà phòng và chất tẩy rửa được sử dụng để loại bỏ sáp và các tạp chất khác Các loại vải và chất tẩy trắng. Dòng nước thải này có khả năng phân hủy sinh học ít nhất ở một mức độ nhất định và đóng góp cao nhất vào tải trọng hữu cơ của nước thải dệt may.

Nước thải dệt nhuộm khó xử lý do thuốc nhuộm 

Sự hiện diện của thuốc nhuộm và các hóa chất độc hại khác làm nước thải dệt nhuộm khó xử lý. Do đó khả năng phân hủy sinh học hạn chế vì có tới 50% thuốc nhuộm được sử dụng cùng với natri clorua và các hóa chất phụ trợ khác bị mất vào nước thải (O’Neill et al. 1999). Các thuốc nhuộm được sử dụng trong thực tế là các chế phẩm không đồng nhất có chứa thuốc nhuộm bất hoạt và các chất phụ gia giúp tăng cường sự liên kết của thuốc nhuộm với sợi.

Nước thải hoàn thiện chứa hầu hết các hợp chất ít phân hủy hoặc không phân hủy sinh học như chất chống thấm dầu, chất chống cháy và tất cả những gì làm cho vải sẵn sàng được sử dụng (Porter et al. 1972). Sự phức tạp này, cùng với khối lượng lớn được tạo ra, khiến việc nước thải dệt nhuộm khó xử lý và ô nhiễm môi trường.

Để tăng khả năng xử lý sinh học của hệ thống, bạn có thể bổ sung vi sinh WWT được nhập khẩu từ Anh Quốc với khả năng kháng lại chất ức chế vi sinh.

Hệ thống XLNT dệt nhuộm ở KCN Xuyên Á

Xả nước thải dệt nhuộm vào môi trường sẽ làm chết sinh vật

Xả nước thải dệt vào các vùng nước tự nhiên sẽ làm giảm hàm lượng oxy do sự thâm nhập của ánh sáng mặt trời thấp hơn, đồng thời, do nhu cầu oxy sinh học (BOD) tăng sẽ dẫn đến tăng tiêu thụ oxy. Hậu quả là sự sống trong cơ thể dưới nước sẽ giảm mạnh. Ngoài ra, nhiều hợp chất độc hại trong nước thải dệt may cũng sẽ làm giảm sinh vật trong nước tiếp nhận và đất gần đó. Điều quan trọng cần lưu ý là loại bỏ màu sắc không nhất thiết có nghĩa là tránh các tác động tiêu cực đến môi trường. Các phân tử và hợp chất độc hại có thể gây ra các vấn đề khác như phú dưỡng có thể không hấp thụ ánh sáng nhìn thấy được.

Số liệu thực tế

Trong công việc này, cả nước thải dệt tổng hợp và thực tế đã được sử dụng. Nước thải tổng hợp đã được chuẩn bị để mô phỏng thành phần thực của nước thải dệt theo nhu cầu oxy hóa học (COD) và hàm lượng muối và với mục đích đó là tóm tắt 16 thành phần trung bình của nước thải dệt dựa trên tài liệu và dữ liệu thực tế được tạo ra bởi Jonstrup (2011) đã được sử dụng. Nước thải dệt may thực sự được nhận từ Ten Cate, Hà Lan, một công ty sản xuất hàng dệt bảo vệ và các mặt hàng khác. Bảng 1 so sánh thành phần của chất thải được sử dụng trong công việc này và thành phần trung bình được tìm thấy bởi Jonstrup (2011).


Xem thêm:

17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 1/3)
17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 2/3)
17 đặc điểm của nước thải dệt nhuộm (Phần 3/3)
3 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Trong Nước Thải (P1)
2 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Bằng Phân Tích COD
Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica
Xử lý mùi hôi trong nhà máy XLNT bằng cách nào?
Kiểm tra hệ thống XLNT sinh hoạt trong 5 phút


Cách xác định chất hữu cơ trong nước thải có thể được thực hiện theo nhiều cách. Phổ biến nhất là các phương pháp tính nhu cầu oxy. Mặc dù cách xác định hàm lượng carbon hữu cơ cũng có thể được sử dụng. Ước tính đầu tiên là lượng oxy sẽ cần để ổn định hàm lượng hữu cơ của nước thải. Hai phương pháp phổ biến nhất là nhu cầu oxy sinh hóa và nhu cầu oxy hóa học.

Xem thêm: 3 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Trong Nước Thải (P1)
2 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Bằng Phân Tích COD

Cách xác định chất hữu cơ trong nước thải qua phân tích lượng carbon hữu cơ (TOC)

Phương pháp này dựa trên sự đốt cháy chất hữu cơ thành carbon dioxide và nước. Sau khi tách nước, khí đốt được đưa qua máy phân tích hồng ngoại và phản ứng được ghi lại. Một sơ đồ của hệ thống này được hiển thị dưới đây:

Hình 2.5 . Sơ đồ phân tích TOC

Số liệu được ghi lại tỷ lệ thuận với lượng carbon dioxide hình thành tỷ lệ thuận với nồng độ carbon trong mẫu được bơm vào ống đốt. Quá trình oxy hóa của mẫu tiến hành bằng cách làm nóng đến gần 1000 °C hoặc bằng bức xạ UV mạnh.

Do nước thải có chứa cacbonat hoặc bicacbonat thường có trong nước cấp, chúng có thể được loại bỏ bằng cách axit hóa mẫu và tẩy bằng khí trơ trước khi bơm vào máy đốt. Một bất tiện lớn làm cho cách xác định chất hữu cơ trong nước qua phân tích TOC không phổ biến là chi phí máy móc tương đối cao.

Mối quan hệ giữa các phương pháp về hàm lượng hữu cơ

Vì tất cả các quy trình này dựa trên quá trình oxy hóa tất cả các chất có trong nước thải, về nguyên tắc, chúng có một mối tương quan giữa các kết quả của chúng.

Tuy nhiên, phải hết sức cẩn thận khi phát triển các mối tương quan này vì mỗi phương pháp phân tích bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau. Ví dụ, phân tích BOD5 phụ thuộc vào nhiều yếu tố (chủng vi sinh, độ pha loãng và độ pH); sai số của COD có thể là do sự hiện diện của các chất vô cơ làm giảm hàm lượng dicromat; có nhiều hợp chất không bị thay đổi trong BOD5 nhưng bị oxy hóa hóa học như các chất độc hại; có những chất chống lại quá trình oxy hóa bằng dichromate như pyridine và axit axetic. Mối quan hệ giữa COD và BOD5 được thể hiện như hình bên dưới.

Hình 2.6 . Mối quan hệ giữa BOD 5 và COD trong nước thải.


Xem thêm:

3 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Trong Nước Thải (P1)
2 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Bằng Phân Tích COD
Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica

Xử lý mùi hôi trong nhà máy XLNT bằng cách nào?
Kiểm tra hệ thống XLNT sinh hoạt trong 5 phút
5 nhóm vi sinh vật trong bùn hoạt tính
Hãng sản xuất vi sinh Organica


 

Xác định chất hữu cơ bằng phân tích COD phổ biến hơn phương pháp đo BOD5. Mặc dù cách xác định hàm lượng carbon hữu cơ cũng có thể được sử dụng. Ước tính đầu tiên là lượng oxy sẽ cần để ổn định hàm lượng hữu cơ của nước thải. 

Xem thêm: 3 Cách Xác Định Chất Hữu Cơ Trong Nước Thải (P1)

Do sự bất tiện của BOD5, người ta thường xác định chất hữu cơ bằng phân tích COD. Có hai phương pháp đều dựa trên quá trình oxy hóa hóa học của vật chất: một là oxy hóa bằng phương pháp permanganat (đôi khi được gọi là oxy tiêu thụ) và oxy hóa bởi ion dichromate. Oxy hóa bằng phương pháp permanganate là phương pháp tiêu chuẩn cho đến năm 1965 khi nó được thay thế bằng phương pháp dichromate. Bài viết bàn về cách xác định chất hữu cơ bằng phân tích COD với phương pháp dichromate và phương pháp hoàn lưu kín.

1. Xác định chất hữu cơ bằng phân tích COD: phương pháp dichromate?

Phương pháp dichromate thường được dùng để kiểm soát và giám sát các hệ thống xử lý nước thải. COD của nước thải thường cao hơn BOD5 vì số lượng các hợp chất có thể bị oxy hóa hóa học lớn hơn các hợp chất có thể bị phân hủy sinh học. Nó cũng phổ biến để tạo ra mối tương quan của BOD5 so với COD. Sau đó, phân tích COD nhanh chóng để ước tính BOD5 của nước thải. Điều này thuận tiện vì chỉ cần khoảng ba giờ để xác định COD, trong khi BOD5 mất ít nhất 5 ngày. Tuy nhiên, quy trình này chỉ có thể được sử dụng trong trường hợp độ biến thiên của thành phần của nước thải thấp và kết quả của hệ thống không thể được sử dụng như là một nguồn tin cậy trong các trường hợp khác.

Hình: Dichromate

1.1 Phân tích COD bằng dichromate thực hiện như thế nào?

Phương pháp COD sử dụng dichromate làm chất oxy hóa được thực hiện bằng cách đun nóng dưới dòng hồi lưu mẫu nước thải có thể tích đã biết trong một lượng dư kali dicromat (K2Cr2O7) với sự có mặt của axit sunfuric (H2SO4) trong một thời gian cố định (thường là hai giờ) với sự có mặt của bạc sunfat (Ag2SO4) làm chất xúc tác. Các chất hữu cơ có mặt bị oxy hóa và kết quả là ion dicromat (màu cam) được tiêu thụ và thay thế bằng ion cromic (màu xanh lá cây):

Cr 2 O 2- + 14H + + 6 e- 2Cr 3+ + 7H 2 O

COD được tính bằng cách chuẩn độ lượng dư của dichromate hoặc bằng phép đo quang phổ ion Cr3+ ở bước sóng 606 nm. Một khả năng khác là đo lượng lưỡng sắc dư thừa ở 440nm (standar methode 5220C). Chuẩn độ đòi hỏi thao tác phức tạp hơn nhưng được coi là chính xác hơn.

1.2 Xúc tác bằng bạc sunfat

Sự hiện diện của bạc sunfat làm chất xúc tác là cần thiết cho quá trình oxy hóa hoàn toàn các hợp chất carbon aliphatic. Làm lạnh mẫu sau thời gian phân hủy hai giờ, thêm một vài giọt dung dịch chỉ thị (ferroin) và chuẩn độ lượng dichromate dư bằng dung dịch amoni sunfat có nồng độ đã biết trước, cho đến khi màu chuyển từ màu xanh lục sang màu nâu đỏ. Phản ứng chuẩn độ tương ứng với quá trình oxy hóa của amoni sunfat sắt bằng dicromat:

Cr 2 O 2+ 14H + + 6Fe 2+  2Cr 3+ + 6Fe 3+ + 7H 2 O

Sự thay đổi màu sắc tương ứng với sự hình thành ionphenantroline kim loại phức xảy ra khi tất cả các ion dichromate đã bị khử thành Cr3+:

(Fe (C 12 H 8 N 2 ) 3 ) 3+ + e(Fe (C 12 H 8 N 2 ) 3 ) 2+
PhenricrolinePhenantroline sắt
(màu xanh xanh)(màu nâu đỏ)

Một yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến phân tích COD là sự có mặt của clorua. Nếu phân tích COD của mẫu nước biển hoặc nước muối, clorua trong mẫu nước thải sẽ gây ảnh hưởng trong khi chúng bị oxy hóa bởi dichromate:


Cl 
 + Cr 2 O 2- + 14H +  3 Cl 2 + 2Cr 3+ + 7H 2 O

Sự ảnh hưởng này có thể ngăn chặn bằng cách thêm sunfat thủy ngân (HgSO4) phản ứng tạo thành clorua thủy ngân và kết tủa:

Hg 2+ + 2 Cl-  HgCl 2

Ion nitrite cũng tác dụng với COD, nhưng hàm lượng trong nước rất thấp nên ảnh hưởng được xem là không đáng kể.

2. Xác định chất hữu cơ bằng phân tích COD: phương pháp đun hoàn lưu kín?

Một phương pháp khác để xác định COD là phương pháp đun hoàn lưu kín SMEWW 5220D. Trong trường hợp này, một lượng nhỏ mẫu được đun nóng với dung dịch dicromat đậm đặc với sự hiện diện của bạc sunfat và sunfat thủy ngân. Phản ứng diễn ra trong các ống nuôi cấy có nắp vặn lót PTTE. Quá trình gia nhiệt thường diễn ra trong thời gian ngắn hơn, ở nhiệt độ cao hơn so với phương pháp hồi lưu mở và COD được ước tính bằng phương pháp đo quang phổ. 

Phương pháp hồi lưu mở được khuyến nghị cho nhiều loại chất thải và có thể sử dụng cỡ mẫu lớn. Phương pháp hồi lưu kín là kinh tế hơn về mặt chất phản ứng. Tuy nhiên, trong việc đồng nhất hóa các mẫu trước khi phân tích để thu được kết quả sinh sản, cần đặc biệt chú ý đến các mẫu có chất rắn lơ lửng như trong trường hợp chất thải thủy sản.


Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica
Xử lý mùi hôi trong nhà máy XLNT bằng cách nào?
Kiểm tra hệ thống XLNT sinh hoạt trong 5 phút
5 nhóm vi sinh vật trong bùn hoạt tính
Hãng sản xuất vi sinh Organica


Xác định chất hữu cơ trong nước thải có thể được thực hiện theo nhiều cách. Phổ biến nhất là các phương pháp tính nhu cầu oxy. Mặc dù cách xác định hàm lượng carbon hữu cơ cũng có thể được sử dụng. Ước tính đầu tiên là lượng oxy sẽ cần để ổn định hàm lượng hữu cơ của nước thải. Hai phương pháp phổ biến nhất là nhu cầu oxy sinh hóa và nhu cầu oxy hóa học.

Thành phần của nước thải

Thành phần nước thải có thể được phân thành 3 nhóm: i) vật lý, ii) hóa học và iii) sinh học.

  • Đặc tính vật lý bao gồm màu sắc, mùi, chất rắn và nhiệt độ.
  • Đặc tính hóa học bao gồm lượng hoặc nồng độ carbohydrate, chất béo, dầu và mỡ, thuốc trừ sâu, phenol, protein, chất hoạt động bề mặt và chất hữu cơ dễ bay hơi, kiềm và clorua, kim loại nặng, nitơ, phốt pho, lưu huỳnh, hydro sunfua và metan, oxy.
  • Đặc điểm sinh học bao gồm động vật và thực vật, vi khuẩn eubacteria và archaebacteria, vi rút.

Các thông số này được ghi nhận là có liên quan đến nhau, ví dụ như  nhiệt độ, một tính chất vật lý, có tác động đến hoạt động sinh học trong nước thải và lượng khí hòa tan trong nước thải.

Thành phần của EfOM (Chất hữu cơ đầu ra) là sự kết hợp của NOM (Chất hữu cơ tự nhiên), các sản phẩm vi sinh hòa tan SMP (Soluble microbial product) và các hóa chất gây hại. Hầu hết NOM có nguồn gốc từ nước uống, một trong những thành phần chính trong nước thải, trong khi SMP đến từ xử lý sinh học ở nhà máy xử lý nước thải và chất hữu cơ không phân hủy.

Hình: Máy đo BOD

1. Xác định chất hữu cơ trong nước thải bằng cách đo nhu cầu oxy sinh hóa

Nhu cầu oxy sinh hóa, còn được gọi là BOD, ước tính được mức độ ô nhiễm bằng cách đo oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa chất hữu cơ bằng cách chuyển hóa hiếu khí của hệ vi sinh vật. Trong nước thải, nhu cầu oxy này bắt nguồn chủ yếu từ hai nguồn: các hợp chất carbon được sử dụng làm chất nền của các vi sinh vật hiếu khí và các hợp chất chứa nitơ có trong nước thải như protein, peptide và amin dễ bay hơi. Các phương pháp phổ biến nhất được mô tả dưới đây.

Pha loãng để xác định chất hữu cơ trong nước thải

Đây là phương pháp phổ biến nhất. Về cơ bản, nó bao gồm các bước pha loãng nước thải (theo tỷ lệ phụ thuộc vào độ ô nhiễm của nước) bằng dung dịch dinh dưỡng (muối khoáng) bão hòa với không khí, lưu trữ độ pha loãng trong chai kín và đo oxy hòa tan trước và sau khi ủ kín trong 3, 5 hay 7 ngày. Thời gian năm ngày thường được theo dõi và sau đó BOD được tính là BOD5 . Các quy trình chi tiết để phân tích BOD5 được trình bày cụ thể tại Standard Method 5210 và sơ đồ đơn giản hóa được đưa ra trong Bảng sau:

Bảng. Mô tả đơn giản về quy trình thử nghiệm BOD 5

 STT

PHÂN TÍCH BOD5

1

Lấy mẫu và vận chuyển ngay đến phòng thí nghiệm
2Pha loãng mẫu bằng dung dịch dinh dưỡng sao cho BOD tối đa là 6 mg / l
3Cấy vi khuẩn thích nghi
4Đổ đầy chai BOD bằng nước thải pha loãng và bịt kín chúng
5Chỉ đổ đầy chai trắng bằng nước pha loãng
6Xác định oxy hòa tan (DO) trong các mẫu trước khi bắt đầu ủ
7Ủ mẫu trong 5 ngày trong bóng tối ở 20 °C
8Xác định DO trong mẫu sau 5 ngày
9Tính toán thay đổi lượng oxy hòa tan: (thay đổi DO của mẫu) (thay đổi DO của kiểm soát). BOD 5 là lượng DO thay đổi nhân với hệ số pha loãng được sử dụng trong bước 2.

Các vấn đề chính cần được lưu ý khi phân tích BOD trong nước và nước thải. 

  • Đầu tiên liên quan đến quần thể vi sinh vật: vì phân tích BOD liên quan đến sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ bởi các vi khuẩn, chúng phải có mặt trong các chai BOD.  Nếu số lượng vi sinh vật trong hạt không đủ, BOD có thể xác định thấp hơn thực tế, do thiếu thời gian cần thiết cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Điều tương tự có thể xảy ra nếu sử dụng một chủng vi khuẩn không thích nghi. Sự đánh giá sai lệch này có thể xảy ra do các vi sinh vật cần thêm thời gian để thích nghi hoặc để phát triển đến mức cần thiết để có thể làm giảm chất hữu cơ. Đây là lý do tại sao mức tiêu thụ oxy trong BOD nên được theo dõi hàng ngày, và không được thực hiện nhanh chóng mà phải phân tích trong thời gian 5 ngày.

Hình. Đường cong BOD điển hình.

 (Lưu ý rằng việc xác định thấp lượng BOD có thể xảy ra nếu sử dụng chủng vi sinh không phù hợp)

Một hiện tượng khác có thể xảy ra là quá trình nitrat hóa, vì trong nước thải có chứa lượng Nitrate đáng kể, tùy theo từng loại nước thải. Điều này gây ra sự tiêu thụ oxy trong nước. Mặc dù quá trình nitrat hóa bắt đầu diễn ra sau năm ngày, nhưng nó có thể xảy ra sớm hơn tùy thuộc vào hàm lượng và dạng nitơ có mặt trong nước thải, cũng như thành phần của hệ vi sinh vật.

Hóa chất để xác định BOD5

Để xác định BOD5 từ phân hủy carbonate, các hóa chất (như allyl thiourea, xanh methylen hoặc 2-chloro-6- (trichloromethyl) pyridine) có thể được thêm vào để ức chế quá trình nitrat hóa trong phân tích BOD (Metcalf và Eddy Inc., 1979). Tuy nhiên, do quá trình nitrat hóa diễn ra trong thực tế, sẽ được tính đến trong nhu cầu oxy thực tế trong nguồn nước tiếp nhận, nên nó cần được tính đến như một phần của tổng nhu cầu oxy trong nước thải.

Related image

Yêu cầu phải ủ trong  thời gian 5 ngày ở nhiệt độ không đổi 20°C ở điều kiện bóng tối là cần thiết để tránh sự phát triển của tảo có thể gây trở ngại nếu các chai tiếp xúc với ánh sáng trong quá trình ủ.

Trong việc xác định mẫu nước thải có hàm lượng ô nhiễm cao, nhiệt độ ủ thấp hơn hoặc thời gian ủ ngắn hơn có thể được sử dụng, nhưng các điều kiện phân tích phải được giải thích rõ ràng cùng với kết quả phân tích.

Các phương pháp thay thế cho phương pháp pha loãng để xác định BOD

Mặc dù phương pháp pha loãng là quy trình chuẩn, nhưng phương pháp này có những bất tiện nhất định đã thúc đẩy việc tìm kiếm các phương pháp phân tích thay thế, đơn giản và thời gian ngắn hơn.  Những bất tiện trong số đó là: thời gian tương đối dài và dụng cụ thủy tinh cần thiết phải có độ chính xác cao, cần phải chuẩn bị thêm một số mẫu pha loãng với các mức nồng độ khác nhau và chủng vi sinh vật phù hợp.

Một trong những bất tiện lớn của BOD5 là thời gian chờ kết quả. Thời gian Năm ngày làm cho phương pháp này không phù hợp cho mục đích kiểm soát của nhà máy xử lý hoặc để kiểm soát nhanh chóng vì thời gian lưu giữ của nước thải trong một nhà máy xử lý chỉ vài giờ. Đây là một trong những lý do chính tại sao các phương pháp oxy hóa hóa học được phát triển.


Xem thêm:

Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica
Xử lý mùi hôi trong nhà máy XLNT bằng cách nào?
Kiểm tra hệ thống XLNT sinh hoạt trong 5 phút
5 nhóm vi sinh vật trong bùn hoạt tính
Hãng sản xuất vi sinh Organica


Xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica ở Runcorn – nước Anh 

Nước thải có nguồn gốc từ nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Các ngành công nghiệp ở Runcorn là hóa chất, thực phẩm, chế biến hương liệu nên nước thải đầu vào đa dạng. Runcorn bị dầu mỡ và chất béo tích tụ trong các bể lắng chính. Mỡ và chất béo như vậy không ảnh hưởng đến vận hành nhưng khi bẫy mỡ được làm trống, một lượng nước quá lớn sẽ đi đến bể chứa bùn trước khi đến bể xử lý. Đầu vào hệ thống trung bình ở mức 25.000m3 mỗi ngày.

Sử dụng vi sinh F33 kèm lò phản ứng sinh học FogHog

Vào tháng 7 năm 1999, chúng tôi đã thử nghiệm xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh F33 tại một trong các bể lắng. Sau 4 tuần, rõ ràng là vi khuẩn có tác dụng lên dầu mỡ và chất béo. Thử nghiệm đã được nhân rộng để xử lý toàn bộ nước thải đầu vào. Vi khuẩn được hoạt hóa bằng cách sử dụng lò phản ứng sinh học. Lò phản ứng sinh học, được đặt tên là FOGHOG, sử dụng nước thải thô làm nguồn thức ăn và nuôi vi khuẩn. Thời gian tăng trưởng là 6 giờ trước khi cho vi khuẩn đã được kích hoạt vào dòng chảy trong 16 giờ tiếp theo.

Kể từ tháng 1, mỡ đã bị phân hủy sinh học và dễ dàng xử lý bằng các phương pháp thông thường. Runcorn đã mua FOGHOG thứ hai để sử dụng tại công trình xử lý nước thải ở thị trấn St Helens.

Xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica ở Moffat – Scotland 

Moffat có một công trình xử lý nước thải (XLNT) nhỏ, xử lý nước cho thị trấn xung quanh (khoảng 2000m3 mỗi ngày). Từ tháng 3 đến tháng 10, dân số tăng đáng kể do mùa du lịch và nước thải cũng tăng theo. Thương mại tăng lên làm lượng dầu mỡ từ các khách sạn, nhà hàng và quán cà phê cũng tăng lên. Do đó, hệ thống thoát nước ở đường phố chính của thị trấn bị tắc nghẽn thường xuyên. Hệ thống xử lý nước thải liên tục bị tắc nghẽn ở các ngăn chứa dầu trong bể lắng chính. Chất béo phải được làm sạch hằng ngày bằng tay.

Sử dụng vi sinh F33 từ năm 1999

Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh F33 trong hệ thống thoát nước và nhà máy XLNT từ tháng 3 năm 1999 và duy trì kể từ đó. Kết quả là cống thoát nước không bị tắc nghẽn trong suốt mùa hè và nhà máy XLNT không bị nhiễm bất kỳ bóng mỡ nào từ thị trấn. Tại hệt thống XLNT, các ngăn chứa mỡ không bị tắc nghẽn và chúng được dọn sạch bằng các đường ống truyền dẫn mỗi hai tuần. Khixử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh F33 thường xuyên, họ không chỉ thấy được sự cải thiện lớn trong các ngăn chứa mỡ mà còn trong các bể chứa bùn và các đường chuyển bùn.


Bài liên quan:

Xử Lý Mùi Hôi Ở Nhà Máy Xử Lý Nước Thải Bằng Cách Nào?

KIỂM TRA HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TRONG 5 PHÚT

5 NHÓM VI SINH VẬT TRONG BÙN HOẠT TÍNH

HÃNG SẢN XUẤT VI SINH ORGANICA


Xử lý nước thải chăn nuôi bằng vi sinh Organica được thực hiện tại một trong những cơ sở chăn nuôi và chế biến gia cầm lớn nhất Vương quốc Anh. Họ đang tìm cách xử lý hồ nước thải tại các trang trại nuôi gà để xả nước thải một cách an toàn.

Xử lý nước thải chăn nuôi bằng vi sinh Organica để giảm BOD, COD, TSS

Nước thải là sản phẩm phụ không thể tránh khỏi của quá trình làm sạch tại các trang trại gia cầm. Sau sáu tuần tăng trưởng (một vụ mùa), có hai tuần nghỉ để rửa sạch và khử trùng chuồng trại. Quy trình làm sạch là một thành phần thiết yếu của việc nuôi và duy trì đàn khỏe mạnh. Nước trong hồ nước thải chứa hàm lượng chất rắn cao từ ổ rơm, một lượng nhỏ thức ăn và phân, chất tẩy rửa và chất khử trùng. Chính sự kết hợp giữa BOD cao, chất rắn và NH3 rất cao này đã khiến các phương pháp xử lý trước đó không thành công.

Thông thường, Nhu cầu oxy sinh học (BOD) của nước vệ sinh chuồng trại có thể thay đổi từ 450-1100 ppm, Chất rắn lơ lửng (SS) 500-1200ppm và ammonia (NH3) từ 100-200ppm. Đối với xả nước, tiêu chuẩn thường là dưới 30ppm BOD, 50ppm SS và dưới 5 ppm NH3 (các số liệu thực tế khác nhau tùy thuộc vào trường hợp cụ thể). Sau hai năm xử lý liên tiếp, các công thức từ Organica mang lại chất lượng nước tốt đáp ứng các tiêu chuẩn xả thải (xem kết quả dưới đây) và được sự đồng ý của cơ quan môi trường. Điều này giúp công ty tiết kiệm tiền và thân thiện với môi trường hơn.

Ngày

pH

BOD

Chất rắn

NH3

Tháng 6 – 2000

7.4563878171

Tháng 6 – 2000

7.1

21

98

1.2

Tháng 9 – 2000

7.3

1120

1100

157

Tháng 9 – 20007.621182

0.6

Xử lý nước thải chăn nuôi bằng vi sinh Organica để giảm mùi 

Các loại khí có mùi khác nhau liên quan đến chăn nuôi gia cầm bao gồm hydro, skalote, thiophenol, mercaptan, thiocresol và cuối cùng là hydrogen sulfide. Tuy nhiên, khí độc hại lớn nhất phát sinh từ các trang trại gia cầm là amoniac, loại khí là không màu nhưng có mùi rất hăng và gây khó chịu ở nồng độ thấp.

Mùi trong một doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm chủ yếu là do thức ăn, nhà ở, gia cầm, phân và chất thải bao gồm cả mùi cơ thể gà.

Một phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay để khử mùi hôi chuồng gà là dùng chế phẩm sinh học khử mùi hôi, Odour Control Plus là một giải pháp vừa kiểm soát vừa xử lý mùi hôi.

Odour Control Plus có thành phần chính là các enzyme phân hủy chất hữu cơ, các chủng vi khuẩn chuyển hóa các bào tử gây mùi và hấp thụ các phân tử mùi khi tiếp xúc và thay thế mùi khó chịu bằng hương thơm dễ chịu, tươi mát. Trong đó, còn các loại dầu thực vật hữu cơ tự phân hủy trong công thức dạng dung dịch nước.


Xem thêm:

9 cách khử mùi hôi trong chuồng gà
Xử lý mùi hôi ở nhà máy XLNT bằng cách nào?
5 thiên tài xử lý chất thải
Công trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng vi sinh Organica


X